|
6 - Thước tính

|
Thước Lôgarit.
Năm 1624, Edmond Grunter (1581 - 1626) là người Anh đầu tiên có ý tưởng sử dụng các logarit và các nguyên lý của nó do Neper phát minh vào năm 1617 để chế tạo một cây thước có chia độ (“thước Grunter”), cho phép đưa phép tính nhân về một phép tính cộng.
|
|
Thước Grunter được cấu tạo bởi một chiếc thước có chia độ lôgarit và dùng chung với một chiếc compas.
Chính một người Anh khác, Seth Partridge, đã phát minh ra chiếc thước trượt năm 1671 - “thước tỷ lệ kép có chia độ” - có hình dạng gần giống với cái chúng ta biết ngày nay, do Haynes chế tạo.
|

Compa bằng gỗ thế kỹ thứ 18
|
Mẫu thước của Partridge đã nhanh chóng được Sauveur ở Pháp (1700), Leadbetter ở Anh (1750), Lambert ở Đức (1760) sao chép.
Những cây thước đầu tiên này không chứa con trượt, và con trượt chỉ xuất hiện sau đó rất lâu.
Nhưng chính ở Anh, vào cuối thế kỷ XVIII, việc sử dụng thước tính đã nhanh chóng trở nên phổ biến. Những thước tính đầu tiên được chế tạo ở Soho do đó mà chúng mang tên “Thước Soho” (Soho-scale hoặc Siho-Rule). Về sau người ta gọi chúng bằng tên “thước trượt”.
|
Năm 1815, Jomard đã mang vào Pháp một cây thước của anh em Jones; dẫn đến việc chế tạo hàng loạt dụng cụ này trong các xưởng của những người kế nghiệp: Gravet-Lenoir, rồi Tavemier-Gravet. Ta cũng có thể kể: Guyard-Decheaume (1820), Richer(1880), Guyard và Cannary(1889), Unis France (1900), rồi GRAPHOPLEX (1940).
|
|
Các nhà chế tạo người Anh tiếp theo là Mountain (1778), Makay (1802), anh em Jones (1814).
[ Đầu trang ] |