|
1 - Cách tính bằng thẻ
"Hãy đếm và ném cho đúng".
Cách tính bằng thẻ, sử dụng một phương pháp tương tự như phương pháp của bàn tính gảy, đã được dùng phổ biến cho tới cuối thế kỷ XIX. Nó được dành cho các phép tính trong thương mại và kế toán công cộng.
|
Từ calculus (tính toán) có nghĩa là caillou (hòn sỏi) hay viên đá nhỏ. Tên này, lúc đầu dùng để chỉ những thẻ đầu tiên làm bằng những hòn sỏi dùng để tính, cuối cùng đã chỉ chính những phép tính đó.
|

Jeton allemand. 1600.
|
|
Từ jeton (thẻ) từ động từ jeter (ném) mà ra; người ta “ném” những thẻ để đặt các phép tính và người ta “nhấc” thẻ lên khi thực hiện các phép tính đó.
Những thẻ, hình nón, thường làm bằng đồng. Những tầng lớp khá giả có những thẻ làm bằng bạc và cả bằng vàng nữa.}
|

Jeton allemand. 1650 Một máy đổi tiền lẻ và quầy đổi tiền.
|
Các thẻ được xếp trên một bàn gọi là bàn tính biểu diễn 1 cái “cây”, vị trí của thẻ trên những đường ngang của cây xác định trọng số của nó trong cách đếm thập phân theo cùng một nguyên tắc như trong bàn tính gảy.
Bằng chứng của việc thực hành một thời gian dài cách tính bằng thẻ này là tên gọi hiện nay của Bộ trưởng Bộ Tài Chính nước Anh, “Bộ trưởng Bàn Cờ”, tên này gợi nhớ lại việc sử dụng cái bàn tính dùng thẻ mà các bạn láng giềng của chúng ta còn gọi là “bàn kẻ ô vuông”.
|
Bên trái đường trung tuyến của cây, người ta đã biểu diễn con số 763 : 7 trăm (5+2), 6 chục (5+1) và 3 đơn vị.
Ở bên phải là số 35098, tích của phép nhân 763 với 46.
Tích số này thực hiện được bằng cách nhân lần lượt từng hàng lẻ của số lớn hơn trong hai số, với từng chữ số của số kia.
|
[ Đầu trang ] |