|
2 - Những máy móc kỳ lạ
|
Những máy móc kỳ lạ.
Những máy tích phân: người ta dùng tên máy tích phân để chỉ một tập hợp những dụng cụ dùng cho việc tích phân cơ học, cho những đường cong phẳng đóng cho trước.
|
|
Chúng gồm một mũi nhọn đi theo đường cong bao quanh mặt, một bánh lăn, quay và trượt theo một hệ phức hợp, những vị trí cùng lúc của mũi nhọn và bánh lăn.
|

Diện tích kế
|
Những máy tích phân bao gồm cả ba loại phân biệt rõ ràng:
- Những diện tích kế đi theo đường bao quanh mặt và cung cấp một kết quả bằng số (giá trị của một tích phân xác định: diện tích, mo men tĩnh hay mo men quán tính đối với một trục, vv...).
- Những tích phân kế cung cấp những giá trị ấy một cách liên tục trong khi đi dần theo đường bao quanh ấy.
- Những tích phân cho phép thu được nét kê của đường cong tích phân tương ứng.
Người ta quy ý tưởng đầu tiên về các diện tích kế là thuộc về Hermann, ở Munich, năm 1814. Công cụ của Hoppikofer ở Berne có từ 1827 và công cụ của Gouella ở Florence, từ năm 1828. A. Amsler, người Thụy Sĩ, năm 1879 đã tìm ra nguyên lý của máy đo mặt cực, nó sẽ là nguồn gốc của một lời giải thực sự tiện lợi, mà sau này đã dẫn tới nhiều thành tựu khác. Ý tưởng đầu tiên về máy tích phân là do Coriolis đưa ra năm 1836, nhưng kỹ sư Abdank-Abakanowicz sẽ thực hiện những dụng cụ đầu tiên vào 1878 và 1879. Ông ta sau này sẽ nghĩ ra kiểu dụng cụ sẽ được nhà xây dựng Coradi hoàn thiện và nó sẽ cung cấp những lời giải phổ biến nhất để vẽ liên tục những đường cong tích phân đơn giãn.
Những dụng cụ đại số: những dụng cụ này có mục đích, thường thường là những thiết bị cơ học, vẽ hàm của một hoặc nhiều biến số và tìm những nghiệm của một phương trình.
Vấn đề này đã được đề cập lần đầu một cách khái quát vào năm 1863 bởi E. Stamm trong bản báo cáo của ông “Tiểu luận về lý thuyết tự động”, trong đó ông chủ trương sử dụng những thiết bị cơ học. Đến 1895 Léonardo Torres de Quévédo đã đề xuất một cách giải quyết rất rộng và hay và đã làm một số dụng cụ.

Lái cân của Grant (1896) được thể hiện dưới đây gồm có hai cột chống dọc, n đòn để giải một phương trình bậc n+1. Trên mỗi đòn có chia độ, người ta dịch chuyển một trọng lượng P và người ta tìm thế cân bằng bằng cách dịch chuyển cột dọc phía phải. Lời giải được đọc trên một thước tỷ lệ có chia độ ở dưới chân cột đó. ax5 + bx4 + cx3 + dx2 + ex + f = 0
|
Phương pháp dùng để giải các phương trình bao gồm một sự biểu diễn vật chất biến dạng được của phương trình và sự giải thích lời giải trong việc tìm một số cân bằng vật lý bền.
Vậy là những người phát minh đã phải sử dụng đến sự cân bằng của những vật nặng (cân phương trình) hoặc đến những định luật của sự cân bằng và của chuyển động của dòng điện.
Nguyên lý của các cân phương trình dựa trên việc tìm kiếm thế cân bằng của một đòn cân, trên đó người ta đặt ở những điểm khác nhau, những trọng lượng bằng những hệ số của phương trình. Cái cân đầu tiên có thể đã do Bérard thực hiện năm 1810.
|
[ Đầu trang ] |